Kết Quả Đề Thi Văn Tuyển Sinh 10

TPO - Sáng nay 15/6, hơn 13.000 thí sinh Đà Nẵng thi vào lớp 10 đã bắt đầu môn thi Ngữ văn. Đề thi được đánh giácó tính phân loại cao.

Thí sinh được chọn 1 trong 3 đoạn thơ trích từ các tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá, bài thơ Tiểu đội xe không kính và Nói với con để thấy được vẻ đẹp của con người Việt Nam. Nhiều thầy cô nhận định cho 3 đoạn trích của 3 tác phẩm để HS lựa chọn 1 đoạn trích để phân tích là một cách để tạo tâm thế thoải mái cho thí sinh khi làm bài. Năm nay là lần đầu tiên Sở GD&ĐT Đà Nẵng ra đề theo cách này. Với cách ra đề này, HS sẽ đạt được nhiều nguyện vọng khác nhau tùy theo mức độ học của bản thân.

Bạn đang xem: Kết quả đề thi văn tuyển sinh 10

Đề thi môn Ngữ văn của Đà Nẵng:

*

Gợi ý đáp án như sau:

Câu 1.

Câu a. Câu văn: “Cháu cứ xem cho thỏa thích. Cần gì cứ nói, bác sẽ lấy cho.” là lời dẫn trực tiếp.

Câu b. Khởi ngữ trong câu là: “Đối với tôi”.

Câu c. Cậu bé vui sướng tột độ khi mua được món quà cho anh trai vì cậu bé rất nghèo không có khả năng mua được món quà Giáng sinh cho anh trai mình.

Câu d. Đây là câu hỏi mở, học sinh đưa ra quan điểm của bản thân về nhân vật người cha.

Gợi ý như sau: Nhân vật người cha là người tinh tế, biết trân trọng tình cảm, giúp đỡ người khác một cách tế nhị.

Câu 2.

1. Về hình thức

- Xác định đúng yêu cầu cần nghị luận.

- Là đoạn văn đầy đủ dung lượng.

- Bài làm sử dụng linh hoạt các thao tác lập luận, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt, lỗi ngữ pháp.

- Bài làm sáng tạo và giàu cảm xúc.

2. Về nội dung

a. Xác định vấn đề cần nghị luận

Ý nghĩa của sự tế nhị khi giúp đỡ người khác.

b. Triển khai vấn đề

- Giải thích: Tế nhị là sự khéo léo sử dụng những cử chỉ ngôn ngữ trong giao tiếp ứng xử, thể hiện là con người có hiểu biết, có văn hóa.

- Ý nghĩa của sự tế nhị khi giúp đỡ người khác:

+ Sự tế nhị thể hiện sự tôn trọng; giúp cho người nhận được sự giúp đỡ không bị tổn thương, tự ái.

+ Sự tế nhị khi giúp đỡ người khác sẽ gắn kết con người lại với nhau, tạo cảm giác gần gũi, thân mật, giúp cho mọi người trở nên thoải mái, cởi mở hơn trong lời nói và hành động.

+ Sự tế nhị khi giúp đỡ người khác làm cho hành động cho đi có ý nghĩa hơn, lan tỏa những thông điệp có ý nghĩa đến cộng đồng, làm cho xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ…

- Bài học nhận thức và hành động:

+ Luôn cẩn trọng trong từng lời nói, hành động khi làm công việc thiện nguyện.

+ Luôn ghi nhớ: Của cho không bằng cách cho; tránh làm “tổn thương” những người có hoàn cảnh khó khăn...

Câu 3.

Học sinh có thể lựa chọn một trong ba đoạn thơ để phân tích, dưới đây là gợi ý lựa chọn đoạn thơ trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính.

Xem thêm: Mua Cua Đồng Ở Đâu - Cua Đồng Xay Mới 100%, Giá: 80

1. Về hình thức

- Xác định đúng yêu cầu cần nghị luận.

- Bài viết đảm bảo đầy đủ bố cục 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài.

- Bài làm sử dụng linh hoạt các thao tác lập luận, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt, lỗi ngữ pháp.

- Bài làm sáng tạo và giàu cảm xúc.

2. Về nội dung

a. Xác định vấn đề cần nghị luận

Vẻ đẹp của con người Việt Nam trong 3 khổ thơ cuối trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính.

b. Triển khai vấn đề

b. 1. Mở bài

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Giới thiệu vị trí, nội dung đoạn thơ và vấn đề nghị luận.

b.2. Thân bài

* Tình đồng chí, đồng đội của người lính lái xe Trường Sơn (Khổ 5, 6)

- Hai câu thơ “Những chiếc xe từ trong bom rơi – Đã về đây họp thành tiểu đội” nổi bật với hình ảnh những chiếc xe không kính gan góc vượt qua bom đạn của kẻ thù để về đây họp thành tiểu đội. Chính sự khốc liệt của chiến tranh đã tạo nên những “tiểu đội xe không kính” gắn bó thân thiết.

- Hình ảnh những con đường đi tới có nhiều ý nghĩa. Đó là con đường cách mạng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, là con đường đi tới chính nghĩa nên họ càng đi, càng có thêm nhiều bạn: “Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới”.

- Sau những cung đường nguy hiểm các anh lại gặp nhau trong cái bắt tay độc đáo qua ô cửa kính vỡ: “Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi”. Đó là cái bắt tay động viên, cái bắt tay truyền cho nhau cả tâm hồn, tình cảm. Cái bắt tay thoải mái, tự nhiên, ấm lòng thay cho lời quyết thắng.

- Một cách định nghĩa về gia đình rất mới, rất rộng, rất lính, thật tếu táo mà cũng đầy sâu sắc: chung bát, chung đũa, chung nắm cơm, bếp lửa, chung hoàn cảnh khó khăn, chung một con đường, chung một lý tưởng. Đó là gia đình.

- Khi hành quân, các anh chào hỏi động viên qua cảnh ngộ độc đáo. Lúc tới đích các anh nghỉ ngơi trò chuyện nói lời tếu táo để rồi tất cả đã trở thành kỉ niệm ấm lòng, trở thành hành trang để các anh mang theo trên chặng đường đánh Mỹ. Để rồi: “Võng mắc chông chênh … trời xanh thêm”. Ý thơ có sự đối lập:

+ Bữa ăn vội vã, giấc ngủ tạm bợ bên đường, đời lính thật gian khổ, đầy chông chênh, nguy hiểm.

+ Tuy nhiên, điệp từ “lại đi” và hình ảnh ẩn dụ “trời xanh thêm” đã khẳng định ý chí chiến đấu, nghị lực vững vàng và tinh thần phơi phới lạc quan của người lính:

• Điệp từ “lại đi” thể hiện hình ảnh đoàn xe không ngừng vươn tới trên con đường giải phóng miền Nam.

• “Trời xanh” là ẩn dụ cho hòa bình, cho tương lai tốt đẹp, là hình ảnh thể hiện niềm tin chiến thắng, là ước nguyện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

* Ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (Khổ 7)

- Hình ảnh chiếc xe không kính được nhắc lại: Nghệ thuật liệt kê kết hợp với điệp ngữ “không có” (3 lần) nhấn mạnh sự trần trụi, biến dạng của những chiếc xe; gợi sự khốc liệt của cuộc chiến.

- Nghệ thuật đối lập giữa cái không và có được khai thác hiệu quả giữa hai phương diện vật chất và tinh thần, vẻ bề ngoài và bên trong xe. Hình ảnh hoán dụ “trái tim” chính là biểu tượng của ý chí, của bầu nhiệt huyết yêu nước nồng nàn, của khát vọng tự do, hòa bình cháy bỏng trong trái tim của người chiến sĩ.

=> Hình ảnh trái tim kết thúc bài thơ đã trở thành nhãn tự, tỏa sáng vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn nói riêng và thế hệ trẻ Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

c.2. Kết bài: Đánh giá chung.

Gợi ý triển khai vấn đề đối với việc thí sinh lựa chọn đoạn thơ trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá.

1. Về hình thức

- Xác định đúng yêu cầu cần nghị luận.

- Bài viết đảm bảo đầy đủ bố cục 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài.

- Bài làm sử dụng linh hoạt các thao tác lập luận, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt, lỗi ngữ pháp.

- Bài làm sáng tạo và giàu cảm xúc.

2. Về nội dung

a. Xác định vấn đề cần nghị luận

Vẻ đẹp của con người Việt Nam trong 3 khổ thơ cuối trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá.