Tại Sao Bỏ Phương Pháp Lifo

Thuật ngữ ” nhập sau, xuất trước” chắc không còn là thuật ngữ quá xa lạ đối với những người chuyên về ngành kế toán, đây là một trong những phương pháp được dùng để xác định giá trị hàng tồn kho kế toán dựa trên giá trị gốc mà tài sản mua được cuối cùng là tài sản đầu tiên được bán. Vậy phương pháp nhập sau, xuất trước có những đặc điểm gì và khi áp dụng phương pháp này cần có những lưu ý gì? Bài viết dưới đây của Luật Dương Gia sẽ cung cấp cho bạn đọc nội dung liên quan đến: ” Phương pháp nhập sau, xuất trước là gì? Đặc điểm và các lưu ý của phương pháp nhập sau, xuất trước”

*
*

1. Phương pháp nhập sau, xuất trước là gì?

– Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO) là một phương pháp được sử dụng để tính toán hàng tồn kho ghi lại các mặt hàng được sản xuất gần đây nhất như đã bán trước. Theo LIFO, chi phí của các sản phẩm được mua (hoặc sản xuất) gần đây nhất được tính vào giá vốn hàng bán (COGS), có nghĩa là chi phí thấp hơn của các sản phẩm cũ hơn sẽ được báo cáo là hàng tồn kho.

Bạn đang xem: Tại sao bỏ phương pháp lifo

– Hai phương pháp tính giá hàng tồn kho thay thế bao gồm nhập trước xuất trước (FIFO), trong đó các mặt hàng tồn kho cũ nhất được ghi nhận là đã bán trước và phương pháp giá vốn trung bình , lấy giá trị trung bình của tất cả các đơn vị có sẵn để bán trong kỳ kế toán và sau đó sử dụng chi phí bình quân đó để xác định giá vốn hàng bán và hàng tồn kho cuối kỳ.

– Nhập sau, xuất trước (LIFO) chỉ được sử dụng ở Hoa Kỳ, nơi có thể sử dụng cả ba phương pháp tính giá hàng tồn kho theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP). Các Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) cấm sử dụng phương pháp LIFO.


– Các công ty sử dụng định giá hàng tồn kho LIFO thường là những công ty có hàng tồn kho tương đối lớn, chẳng hạn như các nhà bán lẻ hoặc đại lý ô tô, có thể tận dụng lợi thế của thuế thấp hơn (khi giá tăng) và dòng tiền cao hơn. Tuy nhiên, nhiều công ty Hoa Kỳ thích sử dụng FIFO hơn, bởi vì nếu một công ty sử dụng định giá LIFO khi nộp thuế, thì công ty đó cũng phải sử dụng LIFO khi báo cáo kết quả tài chính cho các cổ đông , điều này làm giảm thu nhập ròng và cuối cùng là thu nhập trên mỗi cổ phiếu.

2. Đặc điểm và các lưu ý của phương pháp nhập sau, xuất trước.


– Đặc điểm:

Khi không có lạm phát , cả ba phương pháp tính giá hàng tồn kho đều tạo ra cùng một kết quả. Nhưng nếu lạm phát cao, việc lựa chọn phương pháp kế toán có thể ảnh hưởng đáng kể đến các tỷ lệ định giá. FIFO, LIFO và chi phí trung bình có tác động khác nhau:

+ FIFO cung cấp dấu hiệu tốt hơn về giá trị của hàng tồn kho cuối kỳ (trên bảng cân đối kế toán), nhưng nó cũng làm tăng thu nhập ròng vì hàng tồn kho có thể đã vài năm tuổi được sử dụng để định giá giá vốn hàng bán. Tăng thu nhập ròng nghe có vẻ tốt, nhưng nó có thể làm tăng các khoản thuế mà một công ty phải nộp.

+ LIFO không phải là một chỉ báo tốt về giá trị hàng tồn kho cuối kỳ vì nó có thể làm giảm giá trị của hàng tồn kho. LIFO dẫn đến thu nhập ròng (và thuế) thấp hơn do giá vốn hàng bán cao hơn. Tuy nhiên, có ít khoản ghi giảm hàng tồn kho hơn theo LIFO trong thời kỳ lạm phát.

+ Chi phí trung bình tạo ra kết quả nằm trong khoảng giữa FIFO và LIFO. Nếu giá đang giảm, thì điều hoàn toàn ngược lại với điều trên là đúng.


+ Theo LIFO, một doanh nghiệp ghi lại các sản phẩm và hàng tồn kho mới nhất của mình là những mặt hàng đầu tiên được bán. Phương pháp ngược lại là FIFO, trong đó hàng tồn kho cũ nhất được ghi lại là hàng đã bán đầu tiên. Mặc dù theo nghĩa đen, doanh nghiệp có thể không bán hàng tồn kho mới nhất hoặc cũ nhất, nhưng doanh nghiệp sử dụng giả định này cho mục đích kế toán chi phí . Nếu chi phí mua hàng tồn kho là như nhau hàng năm, thì việc doanh nghiệp sử dụng phương pháp LIFO hay FIFO sẽ không có gì khác biệt. Nhưng chi phí thay đổi bởi vì, đối với nhiều sản phẩm, giá tăng hàng năm.


+ Các doanh nghiệp bán các sản phẩm tăng giá hàng năm được hưởng lợi từ việc sử dụng LIFO. Khi giá cả đang tăng, một doanh nghiệp sử dụng LIFO có thể kết hợp tốt hơn doanh thu của họ với chi phí mới nhất của họ. Doanh nghiệp cũng có thể tiết kiệm các khoản thuế đã được tích lũy theo các hình thức kế toán chi phí khác và họ có thể thực hiện ghi giảm hàng tồn kho ít hơn.

Xem thêm: Hướng Dẫn Sử Dụng Samsung J7 Pro Một Cách Thông Minh Nhất, Thiết Lập Ban Đầu Samsung Galaxy J7 Pro


+ Giá vốn hàng bán cao hơn theo LIFO làm giảm lợi nhuận ròng và do đó tạo ra hóa đơn thuế thấp hơn cho One Cup. Đây là lý do tại sao LIFO gây tranh cãi; những người phản đối lập luận rằng trong thời kỳ lạm phát, LIFO ban hành một kỳ nghỉ thuế không công bằng cho các công ty. Đáp lại, những người ủng hộ tuyên bố rằng bất kỳ khoản tiết kiệm thuế nào mà công ty trải qua đều được tái đầu tư và không có hậu quả thực sự đối với nền kinh tế. Hơn nữa, những người ủng hộ cho rằng hóa đơn thuế của một công ty khi hoạt động theo FIFO là không công bằng (do lạm phát).


+ Một lý do cuối cùng mà các công ty chọn sử dụng LIFO là số hàng tồn kho được ghi giảm theo LIFO trong thời kỳ lạm phát. Việc ghi giảm hàng tồn kho xảy ra khi hàng tồn kho được coi là đã giảm giá dưới giá trị ghi sổ của nó . Theo GAAP, giá trị ghi sổ của hàng tồn kho được ghi lại trên bảng cân đối kế toán theo giá gốc hoặc giá thị trường, tùy theo giá nào thấp hơn.

+ Giá thị trường bị ràng buộc giữa một giới hạn trên và dưới: giá trị thuần có thể thực hiện được (giá bán trừ chi phí hoàn thành và thanh lý hợp lý) và giá trị thuần có thể thực hiện trừ đi tỷ suất lợi nhuận thông thường . Trong điều kiện lạm phát, giá trị ghi sổ của hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán đã phản ánh chi phí ghi sổ lâu đời nhất và là giá trị hàng tồn kho thận trọng nhất. Do đó, theo LIFO, việc ghi giảm hàng tồn kho thường là không cần thiết và hiếm khi được thực hiện.

+ Hơn nữa, do việc xóa sổ có thể làm giảm khả năng sinh lời (bằng cách tăng giá vốn hàng bán) và tài sản (bằng cách giảm hàng tồn kho), các hệ số khả năng thanh toán , khả năng sinh lời và khả năng thanh toán đều có thể bị ảnh hưởng tiêu cực. GAAP cấm đảo ngược quá trình ghi xuống. Do đó, các công ty là đối tượng của GAAP phải đảm bảo rằng tất cả các ghi chú là hoàn toàn cần thiết vì chúng có thể gây ra hậu quả vĩnh viễn.

+ Trong thời kỳ giá cả tăng cao, các công ty có thể thấy có lợi khi sử dụng kế toán chi phí LIFO thay vì FIFO. Theo LIFO, các công ty có thể tiết kiệm thuế cũng như kết hợp tốt hơn doanh thu với chi phí mới nhất của họ khi giá cả đang tăng.

– Ví dụ về phương pháp nhập sau, xuất trước:

+ Ví dụ 1: Giả sử có một công ty tên là One Cup, Inc. mua cốc cà phê từ những người bán buôn và bán chúng trên internet. Giá vốn hàng bán (COGS) của One Cup khác khi nó sử dụng LIFO so với khi nó sử dụng FIFO. Trong kịch bản thứ nhất, giá bán buôn cốc đang tăng từ năm 2016 đến năm 2019. Trong kịch bản thứ hai, giá sẽ giảm trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2019.


Vào năm 2020, One Cup bán được 250 cốc trên internet. Theo LIFO, giá vốn hàng bán bằng: tổng chi phí của 100 cốc mua từ nhà bán buôn trong năm 2019, cộng với chi phí của 100 cốc mua trong năm 2018, cộng với chi phí của 50 trong số 100 cốc được mua trong năm 2017.

Theo FIFO, giá vốn hàng bán bằng: tổng chi phí của 100 cốc được mua vào năm 2016, cộng với chi phí của 100 cốc được mua trong năm 2017, cộng với chi phí của 50 trong số 100 cốc được mua vào năm 2018.

+ Ví dụ 2: Giả sử công ty A có 10 vật dụng. Năm vật dụng đầu tiên có giá $ 100 mỗi vật dụng và đã đến tay hai ngày trước. Năm vật dụng cuối cùng có giá 200 đô la mỗi vật dụng và đã đến một ngày trước. Dựa trên phương pháp quản lý hàng tồn kho của LIFO, những vật dụng cuối cùng là những vật dụng đầu tiên được bán. Bảy vật dụng được bán, nhưng kế toán có thể ghi vào giá vốn là bao nhiêu?


Mỗi tiện ích con có cùng giá bán, do đó doanh thu như nhau, nhưng chi phí của các tiện ích con dựa trên phương pháp kiểm kê đã chọn. Dựa trên phương pháp LIFO, hàng tồn kho cuối cùng là hàng tồn kho đầu tiên được bán. Điều này có nghĩa là các vật dụng có giá 200 đô la được bán đầu tiên. Sau đó, công ty đã bán thêm hai vật dụng trong số 100 đô la. Tổng cộng, chi phí của các vật dụng theo phương pháp LIFO là 1.200 đô la, hoặc năm là 200 đô la và hai là 100 đô la. Ngược lại, bằng cách sử dụng FIFO, các widget 100 đô la được bán đầu tiên, tiếp theo là các widget 200 đô la. Vì vậy, chi phí của các vật dụng đã bán sẽ được ghi nhận là 900 đô la, hoặc năm là 100 đô la và hai là 200 đô la.

Đây là lý do tại sao trong thời kỳ giá cả tăng, LIFO tạo ra chi phí cao hơn và giảm thu nhập ròng, điều này cũng làm giảm thu nhập chịu thuế . Tương tự như vậy, trong giai đoạn giá cả giảm, LIFO tạo ra chi phí thấp hơn và tăng thu nhập ròng, điều này cũng làm tăng thu nhập chịu thuế.