Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật

Em được biết, có 4 tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoà thiện của hệ thống pháp luật nói chung là tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, trình độ kỹ thuật lập pháp, nhưng em không rõ tính phù hợp là gì, mong các anh chị giúp em giải đáp giùm ạ.

Bạn đang xem: Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật


01(56)/2010

*

Mục lục

1.Nhận xét chung 2.Một số định hướng phát triển nguồn của luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay 3.Đánh giá tính phù hợp Hiến pháp của hệ thống pháp luật 4.Tài liệu tham khảo

Về hệ thống pháp luật Việt Nam và một số định hướng đổi mới, hoàn thiện

ĐÀO TRÍ ÚC 01(56)/2010 - 2010, Trang 3-11

Ngày đăng:

Trích dẫn

Share Twitter Facebook Zalo

TÓM TẮT

không có

ABSTRACT:

no

TỪ KHÓA: không có,

KEYWORDS: no,

Trích dẫn:

×

ĐÀO TRÍ ÚC, Về hệ thống pháp luật Việt Nam và một số định hướng đổi mới, hoàn thiện, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, 01(56)/2010, Trang 3-11 https://tapchikhplvn.hcmulaw.edu.vn/module/xemchitietbaibao?oid=58a74d65-7e5d-4556-ad8c-9b1fc631302a

Đăng ký để tải miễn phí Đăng ký

Bài viết đã được lưu vài tài khoản.

×

Vui lòng vào mục "Quản lý tài khoản" -> "Bài viết đã lưu" để có xem tiếp ngay lần đăng nhập sau.


1. Nhận xét chung

Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị BCH TW Đảng về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, các Nghị quyết Trung ương và Nghị quyết Đại hội lần thứ IX và lần thứ X của Đảng đã đề ra nhiều chủ trương lớn với một hệ thống các giải pháp đồng bộ vừa có tính đột phá đối với những vấn đề bức xúc; vừa có tính chiến lược lâu dài, tạo cơ sở quan trọng cho việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật đi vào chiều sâu. Việc thực hiện Nghị quyết 48 - NQ/TW nói trên của Bộ Chính trị đòi hỏi sự cố gắng rất lớn, đồng bộ và bền bỉ không những của các cơ quan pháp luật, đội ngũ cán bộ tư pháp mà cả bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị.

Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền XHCN được Đảng và Nhà nước ta đề lên thành một quy tắc hiến định ở Điều 2 của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) là quan điểm có tính phương pháp luận cho toàn bộ quá trình tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta trong giai đoạn tiếp tục đổi mới và trong suốt cả thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Nhờ đó, trong quá trình đổi mới hệ thống pháp luật, chúng ta đã nỗ lực bảo đảm nguyên tắc dân chủ XHCN nhằm làm cho pháp luật nước ta thật sự là những đại lượng bình đẳng, công bằng, phản ánh được lại ích của các giai tầng xã hội, các nhóm dân cư, trong đó Nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến nhóm xã hội bị thiệt thời, cần có sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, của xã hội như phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, cư dân vùng sâu, vùng xa, người già, người cô đơn không nơi nương tựa, v.v... Quan điểm điều chỉnh pháp luật đó đến lượt nó đòi hỏi sự đổi mới một cách căn bản quy trình xây dựng chính sách và pháp luật nhằm khắc phục triệt để cơ chế xây dựng pháp luật thiên về phản ánh lợi ích bộ, ngành, dành sự thuận lợi cho cơ quan quản lý Nhà nước, đẩy sự khó khăn cho nhân dân, cho các doanh nghiệp. Chính cơ chế đó đã dẫn đến việc trình và ban hành các dự án Luật, Pháp lệnh, Nghị định kém chất lượng, khó đi vào cuộc sống, vì nhân dân không chấp nhận các quy định được đưa ra một cách áp đặt.

Sự thừa nhận và thực hiện các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi sự thượng tôn pháp luật trong đời sống xã hội và thực thi pháp luật trên thực tế. Đó chính là lý do của việc tiến hành cải cách hành chính, cải cách tư pháp, hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật. Tư duy được hình thành và củng cố trên nền tảng tư tưởng pháp quyền chính là tư duy thực tiễn, lấy việc thực hiện và bảo đảm lợi ích của xã hội, của con người làm thước đo hiệu quả của pháp luật.

Sự thừa nhận các giá trị pháp quyền phổ biến là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng và thực hiện các nguyên tắc pháp lý trong quá trình hội nhập quốc tế, là bảo đảm pháp lý quan trọng cho việc tham gia và thực hiện các cam kết quốc tế.

Sau hơn 20 năm đổi mới, chúng ta đã xây dựng được một số luật tạo khung pháp luật cho phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN; chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, thương gia, quyền tự do kinh doanh và tự do hợp đồng, các cơ chế khuyến khích và đảm bảo đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội đã từng bước được xác lập. Nhìn chung các thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đã bước đầu hình thành. Cơ chế xin cho trong các quy định mang tính hành chính, mệnh lệnh điều chỉnh các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại nói chung và hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng, đã được giảm thiểu; nguyên tắc “công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm” trong hoạt động kinh doanh từng bước được xác lập.

Công tác soạn thảo, tham định và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dần dần đi vào nề nếp, theo một quy trình thống nhất do luật định; các tổ chức, công dân chịu sự tác động trực tiếp của văn bản đã được tạo điều kiện tham gia đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ngày càng đông đảo và thực chất hơn. Chất lượng văn bản pháp luật được cải thiện một bước quan trọng.

Hoạt động kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật được triển khai trên diện rộng và đang trở thành một trong những nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương. Hoạt động pháp điển hóa bước đầu được chú trọng, một số lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội đã được điều chỉnh bằng bộ luật, luật và pháp lệnh; đã từng bước phân định rõ hơn chức năng lập pháp và chức năng hành pháp của Nhà nước.

Hoạt động thông tin, phổ biến và giáo dục pháp luật có sự chuyến biến tích cực, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu đa dạng về thông tin pháp luật của công dân, tổ chức, góp phần từng bước nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân.

Các cơ sở dữ liệu pháp luật bước đầu được hình thành, “Công báo” tăng số lượng và kỳ phát hành phục vụ hoạt động quản lý nhà nước và đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin của tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân.

Giáo dục pháp luật được đưa vào trường học. Hầu hết các xã, phường, thị trấn trong cả nước có Tủ sách pháp luật, bước đầu phát huy tác dụng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý và hòa giải được đẩy mạnh. Trung tâm trợ giúp pháp lý được thiết lập ở hầu hết các tỉnh, thành phố. Tổ chức và hoạt động của các Tổ hòa giải ở cơ sở được kiện toàn, phát huy tác dụng tích cực trong việc giáo dục pháp luật cũng như giải quyết các vi phạm pháp luật nhỏ và tranh chấp trong nội bộ nhân dân.

Mặc dù đã có những cố gắng và đạt được những kết quả quan trọng trong xây dựng và thi hành pháp luật, nhưng nhìn chung hệ thống pháp luật vẫn tồn tại nhiều yếu kém và bất cập. Hệ thống pháp luật nước ta dù đã được đổi mới tương đối rõ nét, nhưng kết quả đạt được vẫn còn chưa theo kịp và chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hệ thống các cơ quan thi hành và bảo vệ pháp luật, đặc biệt là các cơ quan tư pháp chưa có những bước đột phá mạnh mẽ; đội ngũ cán bộ, công chúc còn nhiều yếu kém và hạn chế về trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần và trách nhiệm; ý thức sống và làm việc theo pháp luật của cán bộ và nhân dân vẫn còn nhiều hạn chế.

Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi pháp luật nước ta phải tương thích với các quy định pháp lý quốc tế, bao gồm các quy phạm pháp luật quốc tế, các điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế cũng như các quy định pháp lý của các tổ chức quốc tế và khu vực. Có thể nói rằng, cho đến nay sự tương thích đó đang là vấn đề lớn của hệ thống pháp luật nước ta.

Một trong những bất cập của pháp luật hiện nay là sự thiếu ổn định và tính khả thi của nó. Không ít quy định pháp luật được xây dựng công phu, tốn kém, nhưng mới ban hành chưa lâu đã có nhu cầu phải bổ sung, sửa đổi. Tình hình này đã làm cho pháp luật nước ta khó bắt kịp nhịp điệu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và càng làm khó thêm khả năng tương thích với các không gian pháp lý quốc tế.

Đánh giá hệ thống pháp luật hiện hành có thể nhận thấy rằng, hệ thống pháp luật còn thiếu toàn diện, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý đất nước bằng pháp luật, nhiều lĩnh vực bức xúc của đời sống xã hội vẫn chưa có luật, thậm chí chưa có văn bản dưới luật của Chính phủ để điều chỉnh. Nhiều nội dung quan trọng được các nghị quyết của Đảng đề ra về đổi mới kinh tế - xã hội chậm được thể chế hóa, ví dụ như vấn đề quản lý nhà nước đối vói tài sản thuộc sở hữu nhà nước, về đăng ký kinh doanh bất động sản, về cạnh tranh trung thực, kiểm soát độc quyền, về khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, về cải cách bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị các cấp... Mặt khác, chưa có sự phát triển cân đối giữa các lĩnh vực: các luật tố tụng thường được ban hành, sửa đổi, bổ sung chậm hơn so vói luật về nội dung.

Xem thêm: Cách Sử Dụng Combobox Trong Datagridview, Tạo Combobox Trong Datagridview

Nội dung của pháp luật trong một số lĩnh vực còn ẩn chứa tư duy bao cấp, chưa thực sự chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN. Trong một số lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, tư duy làm luật chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn nên tính dự báo thấp, thiếu ổn định, phải thường xuyên sửa đổi. Pháp luật chưa thực sự tạo ra môi trường pháp lý bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế; chưa phân định được thật rõ chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với hoạt động doanh nghiệp và đời sống dân sự. Sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhà nước bằng các quyết định hành chính như sự ra đời của một số tổng công ty đã hạn chế tính cạnh tranh và dẫn tới tình trạng độc quyền. Các quy định pháp luật để điều tiết thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường tài chính và ngân hàng chưa đồng bộ và ôn định. Nhũng thiếu sót này không nhũng đã tạo ra nhũng khoảng trống trong pháp luật, mà còn tạo cơ hội cho sự lạm dụng, không huy động tốt các nguồn lực trong nước để phát triển.

Các quy định về quyền tự do, dân chủ của công dân mặc dù đã được Hiến pháp và các luật khung ghi nhận, nhưng vẫn còn thiếu các cơ chế giám sát và chế tài hữu hiệu đối với các hành vi vi phạm các quyền này. Trong các lĩnh vực như: văn hóa, xã hội, bảo vệ quyền con người, bảo hộ người tiêu dùng vẫn còn các quy định mang tính tuyên ngôn, chung chung như “theo quy định của pháp luật”, mà thiếu các quy định cụ thể hướng dẫn thi hành, đảm bảo thực hiện. Các quy định của pháp luật trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước vẫn còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu thống nhất; thiếu các quy định về đề cao trách nhiệm cá nhân; còn phiền hà cho đối tượng quản lý và có lợi cho chủ thể có thẩm quyền nhà nước v.v.

Văn bản do Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương ban hành chiếm một tỷ trọng lớn trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Việc tồn tại nhiều hình thức, văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan khác nhau ban hành ở các thời điểm khác nhau về cùng một vấn đề, một lĩnh vực đã gây nên tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn về nội dung giữa các văn bản quy phạm pháp luật, vẫn còn nhiều trường họp khi ban hành văn bản mới không ghi rõ những văn bản, điều khoản liên quan bị thay thế hoặc bãi bỏ, do vậy, làm cho hệ thống pháp luật rườm rà, khó kiểm soát và khó tiếp cận. Trong khi đó, cơ chế kiểm tra, giám sát trước và sau về tính họp hiến và họp pháp của văn bản quy phạm pháp luật, nhất là văn bản do các Bộ, ngành, địa phương ban hành lại chưa được tổ chức thực hiện tốt trên thực tế.

2. Một số định hướng phát triển nguồn của luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay

Hệ thống pháp luật Việt Nam hiểu theo nghĩa phổ biến trong khoa học pháp lý Việt Nam hiện tại là hệ thống các quy phạm pháp luật được phân chia và sắp xếp theo ngành luật, chế định pháp luật và quy phạm pháp luật mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau về mục đích, về nội dung và về hiệu lực. Khi nói đến hệ thống pháp luật thì không thể không nói đến nguyên tắc chung chi phối các quy phạm, thứ bậc của nó về hiệu lực. ví dụ, nguyên tắc các quy phạm pháp luật có hiệu lực cao hơn được ưu tiên áp dụng so với các quy phạm có hiệu lực thấp hơn; các quy phạm pháp luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng so với các quy phạm pháp luật có hiệu lực chung, các quy phạm pháp luật ban hành sau sẽ được ưu tiên áp dụng so với các quy phạm pháp luật ban hành trước nếu do cùng cấp văn bản.

Hệ thống pháp luật Việt Nam được thể hiện qua toàn bộ các chế định và quy phạm. Các quy phạm pháp luật có nội dung đa dạng và phong phú vì đối tượng mà chúng điều chỉnh là các quan hệ xã hội càng ngày càng phát triển phức tạp về tính chất và quy mô lớn xét về thể loại. Chính vì thế, việc nghiên cứu nội dung cụ thể của pháp luật chỉ có thể được nghiên cứu đầy đủ đối với từng lĩnh vực hoặc từng chế định cụ thể. Trong tổng thể, có thể nhận rõ bốn bộ phận lớn các quy phạm và chế định pháp luật của hệ thống pháp luật Việt Nam.

Thứ nhất, pháp luật hiện hành của Việt Nam có nội dung hướng tới việc đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân; đảm bảo các điều kiện để cá nhân có thể thực hiện các quyền tự do dân chủ của mình.

Thứ hai, pháp luật tạo ra những cơ sở pháp lý cho các quan hệ kinh tế, trong đó quan hệ sở hữu là quan hệ nền tảng, kế đó là những cơ sở pháp lý cho các hoạt động đầu tư, thương mại nhằm phát triển nền kinh tế của đất nước.

Thứ ba, pháp luật có nội dung đảm bảo hoạt động hiệu quả của bộ máy nhà nước, bao gồm hoạt động của các cơ quan lập pháp, các cơ quan hành pháp và tư pháp.

Thứ tư, một trong những nội dung quan trọng của pháp luật là tạo ra cơ chế pháp lý có hiệu quả nhằm giải quyết nhanh, chính xác các tranh chấp phát sinh trong xã hội.

Đặc trưng của pháp luật Việt Nam có thể khái quát ở những nét cơ bản sau:

Thứ nhất, pháp luật Việt Nam thuộc truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa. Điều này có nghĩa là các quy phạm pháp luật Việt Nam là các quy phạm được soản thảo và ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự và thủ tục luật định. Án lệ không được coi là nguồn luật cho dù các kết luận hoặc hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao được coi là văn bản quy phạm pháp luật. Điều này có nghĩa ở Việt Nam, văn bản pháp luật vẫn được coi là nguồn chủ yếu của pháp luật.

- Nguồn pháp luật khá đa dạng về thể loại và vì do nhiều cấp có thẩm quyền ban hành nên có hiệu lực khác nhau. Trong hoạt động xét xử của Toà án cũng như trong hoạt động quản lý, các thẩm phán hay các công chức nhà nước thường làm nhiệm vụ áp dụng pháp luật đúng lời văn, mà ít khi chú ý đến tinh thần của điều luật. Không gian cho sự sáng tạo của họ là rất nhỏ và vì thế khi trong luật không có một quy định nào đó thì vấn đề pháp lý nảy sinh từ cuộc sống cụ thể sẽ không được giải quyết. Cách tiếp cận này đã khiến cho các thẩm phán và công chức nhà nước luôn luôn bị trói chặt bải những quy phạm pháp luật hiện hữu.

- Các văn bản pháp luật hiện nay thiếu nhiều quy phạm cụ thể. Các luật được ban hành nhiều, song phần lớn chứa đựng các nguyên tắc và các quy phạm chung. Chính vì vậy việc áp dụng các quy phạm nguyên tắc này đòi hỏi phải có những giải thích cần thiết. Phần lớn các luật giao nhiệm vụ giải thích thực hiện luật cho Chính phủ, còn Chính phủ thì giao lại cho các Bộ ngành, các địa phương. vì vậy, mỗi luật đều tạo ra một hệ thống các văn bản thấp hơn, khiến pháp luật trở nên cồng kềnh về số lượng văn bản, dễ mâu thuẫn và xung đột về nội dung. Hệ quả là hiệu lực và khả năng thực hiện pháp luật rất hạn chế.

- Về luật tục và tập quấn pháp lý: Theo cách hiểu phổ biến, luật tục là quy tắc xử sự, quy tắc hành vi có được do quá trình áp dụng nó một cách tự phát trong một thời gian dài ở những vùng cư dân nhất định. Do vậy, luật tục chỉ có thể là những tục lệ nào được Nhà nước chính thức thừa nhận hoặc được Tòa án áp dụng trong thực tiễn xét xử. Ranh giới giữa tục lệ pháp lý với quy phạm pháp luật không được xác định cứng nhắc, bởi vì, khi tục lệ đó được đưa vào văn bản quy phạm hoặc được xem là cơ sở cho việc xét xử thì nó mặc nhiên trở thành một bộ phận của pháp luật hiện hành.

Người ta phân biệt luật tục với tập quán, tức là những gì trở nên quen thuộc trong một lĩnh vực hoạt động nào đó, ví dụ trong lĩnh vực kinh doanh (tập quán thương mại). Luật tục phải là cái gì đó có nguồn gốc xưa hơn tập quán. Ở Anh, Luật năm 1265 (cho đến nay vẫn còn hiệu lực) có quy định rằng, chỉ những tục lệ có từ trước năm 1189 mới là Luật tục. Như vậy, ở đây phân biệt luật tục (tập quán pháp lý địa phương) với tập quán thương mại (mercantile customs) theo độ xưa của chúng.

Luật tục đã đóng vai trò quan trọng trong lịch sử hình thành các hệ thống pháp luật trên thế giới. Tuy nhiên, vai trò của chúng ngày càng bị hạn chế. Ở nước ta và nói chung là ở các nước XHCN trước đây, luật tục không được coi là một nguồn của pháp luật. Các cơ quan áp dụng pháp luật không được sử dụng các tục lệ pháp lý ở các địa phương và các dân tộc khác nhau giải quyết những tranh chấp, những vụ án hình sự, dân sự cụ thể.

Tuy vậy, nghiên cứu thực tiễn của các cơ quan bảo vệ pháp luật ở nước ta trong suốt những thời kỳ qua cho thấy rằng, ở rất nhiều trường họp việc giải quyết các vụ việc ấy bằng pháp luật chính thức của Nhà nước là rất khó khăn vì có sự “xung đột” giữa pháp luật với tập tục, kể cả tập quán pháp lý ở địa phương hoặc của nhóm dân tộc ở đó. Kết quả là hoặc các quyết định, các bản án không phát huy được hiệu lực pháp lý, hoặc bị phản ứng mạnh từ phía dân chúng ở địa phương, hoặc nói chung là không được thi hành hoặc thi hành không đầy đủ.